Sức khỏe nghề nghiệp

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Hơn 80% trong tổng số 3 tỷ người lao động trên thế giới phải sống và làm việc trong điều kiện không được tiếp cận dịch vụ y tế lao động cơ bản.
  • Gần một nửa trong số 4 tỷ người ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là người lao động, chưa kể người lao động khu vực phi chính thức.
  • Năm 2000 ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có 430.000 người chết và14 triệu năm cuộc sống được điều chỉnh theo mức độ tàn tật (DALYs) bị mất do rủi ro nghề nghiệp.
  • Tháng 5/ 2007, kỳ họp thứ 60 của Đại hội đồng Y tế Thế giới đã thông qua Kế hoạch hành động toàn cầu về Sức khoẻ của người lao động giai đoạn 2008-2017 với những mục tiêu sau:
    • Đưa ra và thực hiện các công cụ chính sách về sức khỏe người lao động;
    • Bảo vệ và nâng cao sức khỏe nơi làm việc;
    • Tăng cường việc thực hiện và tiếp cận với các dịch vụ y tế lao động cơ bản;
    • Cung cấp và thông tin về các bằng chứng cho hành động và thực hiện;
    • Kết hợp vấn đề sức khỏe của người lao động vào các chính sách và dự án khác.
  • Khu vực Tây Thái Bình Dương của TCYTTG đã xây dựng Khung Hành động về Sức khỏe nghề nghiệp giai đoạn 2011-2015 của Khu vực. Các mục tiêu của Khung hành động này cũng tương tự như của Kế hoạch Hành động Toàn cầu. Các ưu tiên và hành động phù hợp với Khu vực Tây Thái Bình Dương trong mỗi mục tiêu cũng được xác định và nêu bật.

Tình hình sức khỏe nghề nghiệp

  • Việt Nam có 86 triệu dân và một lực lượng lao động gồm 48 triệu người.
  • Khoảng 48,2% người lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và nghề cá, 15,3% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và 5,6% trong lĩnh vực xây dựng.
  • Năm 2008 số doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 97,1% trong tổng số 206.000 doanh nghiệp trên cả nước. Trong những thập niên gần đây Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội nhờ thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
  • Tuy vậy, bên cạnh những lợi ích của phát triển kinh tế, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức về an toàn và vệ sinh lao động. Trong quá trình công nghiệp hóa đã xuất hiện nhiều nguy cơ và rủi ro mới – như những loại hóa chất mới sử dụng trong ngành sản xuất giày và nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp.
  • Ngoài những bệnh nghề nghiệp truyền thống (như bệnh bụi phổi si-lic, giảm thính lực do tiếng ồn, ngộ độc hóa chất, v.v), các bệnh liên quan đến nghề nghiệp cũng thường xảy ra, như rối loạn cơ xương khớp, bệnh do căng thẳng nghề nghiệp và các yếu tố tâm lý xã hội, SARS (hội chứng suy hô hấp cấp) và cúm gia cầm.
  • Tính đến năm 2012, tổng số tích lũy các trường hợp người lao động được nhận bồi thường tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là 27. 246, trong đó các trường hợp bị bệnh bụi phổi si-lic nghề nghiệp chiếm 75% và giảm thính lực do tiếng ồn 15%.
  • Cần phải củng cố hệ thống dịch vụ y tế lao động, nhất là ở các doanh nghiệp nhỏ và khu vực kinh tế phi chính thức, như nông nghiệp, làng nghề thủ công.

Đáp ứng của TCYTTG

  • TCYTTG cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để giúp Việt Nam triển khai thực hiện Dự án Bảo vệ sức khỏe người lao động giai đoạn 2009-2011 do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản tài trợ. Dự án đã đạt được những kết quả sau:
    • Thu thập số liệu cơ bản về dịch vụ y tế lao động cơ bản ở các cấp (từ trung ương tới doanh nghiệp).
    • Xem xét khả năng tham gia Công ước 161 của ILO của quốc gia và triển khai thành công các mô hình thí điểm lồng ghép dịch vụ y tế lao động cơ bản với cải thiện điều kiện lao động trong nông nghiệp, làng nghề, cơ sở y tế và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
    • Phần lớn các mô hình thí điểm đã mang lại kết quả đáng hài lòng, và một số kết quả can thiệp đã duy trì và có tác động đến công tác bảo vệ sức khỏe người lao động.
    • Dự án đã hỗ trợ trang thiết bị và đào tạo cần thiết để tạo thuận lợi cho công tác giám sát môi trường lao động, chẩn đoán các bệnh liên quan đến amiăng và xây dựng Hồ sơ quốc gia về sức khoẻ lao động liên quan đến Amiăng.
    • Dự án đã đánh giá được mối liên quan giữa bệnh ung thư trung biểu mô, ung thư phổi và tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng ở những bệnh nhân ung thư ở một số bệnh viện Việt Nam. Các Viện và bệnh viện ở Nhật Bản đã phối hợp trao đổi kinh nghiệm và khẳng định các kết quả xét nghiệm.
    • Nhân viên y tế ở tuyến trung ương và tuyến tỉnh đã được tập huấn để củng cố năng lực giám sát an toàn lao động trong cơ sở y tế và phòng chống bệnh nghề nghiệp.
    • Sản phẩm của dự án bao gồm tài liệu huấn luyện và các tài liệu khác đã được phổ biến qua các hoạt động của chương trình quốc gia, như hội nghị và hội thảo.
  • Trong giai đoạn tiếp theo của dự án, 2012-2014, TCYTTG tiếp tục hỗ trợ Việt Nam:
    • Triển khai các dịch vụ y tế lao đông cơ bản trong ngành xây dựng, khai thác mỏ và hóa chất;
    • Xây dựng năng lực để phát triển và triển khai thực hiện kế hoạch hành động quốc gia nhằm loại trừ các bệnh liên quan đến amiăng;
    • Hỗ trợ công tác kiểm tra, giám sát Chương trình quốc gia về An toàn vệ sinh lao động giai đoạn 2011-2015
    • Hợp tác với các quốc gia ASEAN;