Sốt rét

Thông tin cần biết (cập nhật tháng 12 năm 2014)

Các thông tin chính

  • Tỷ lệ mắc sốt rét ở Việt Nam đã liên tục giảm, từ 2,8 ca xác định/1.000 dân năm 1991 xuống 0,87 ca /1.000 dân năm 2001 và năm 2013 chỉ còn 0,2 ca /1.000 dân.
  • Năm 2013 có 6 ca tử vong do sốt rét, so với 4.646 ca năm 1991, 91 ca năm 2001 và 14 ca năm 2011.
  • Ước tính dân số Việt Nam năm 2013 là 89,9 triệu người, với khoảng 14,4 triệu người sống ở những vùng có sốt rét lưu hành (khoảng 16% dân số).
  • Hầu hết các ca bệnh sốt rét và các ca tử vong do sốt rét xảy ra ở khu vực ven biển miền Trung và Tây Nguyên.
  • Việt Nam cam kết loại trừ bệnh sốt rét vào năm 2030.
  • Tỷ lệ kháng artemisinin đang ngày càng tăng tại bốn quốc gia tiểu vùng sông Mê Kông (Việt Nam, Thái Lan, Myanma và Campuchia).
  • Hiện nay Chương trình Quốc gia Phòng chống Sốt rét đã triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030.
  • Những hoạt động phòng chống và loại trừ sốt rét chính bao gồm: chẩn đoán sớm bằng kính hiển vi hoặc test chẩn đoán nhanh (RDT), điều trị đủ bằng các loại thuốc chữa sốt rét có hiệu quả, giám sát và theo dõi đánh giá, phân phát màn ngủ tẩm hóa chất có tác dụng tồn lưu dài (LLIN), phun hóa chất và đào tạo.
  • Với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới, đầu năm 2011 Kế hoạch quốc gia về ngăn chặn sốt rét kháng artemisinin đã được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc hướng dẫn của Kế hoạch ngăn chặn kháng aretemisin toàn cầu (GPARC). Tuy nhiên cho tới nay kinh phí Chính phủ cấp cho Kế hoạch này còn ở mức rất thấp.
  • Bộ Y tế đã cấm sử dụng phác đồ đơn trị liệu artesunate để điều trị sốt rét, và cấm sản xuất thuốc sốt rét loại artesunate đường uống dưới dạng đơn trị liệu, một trong những yếu tố chính thúc đẩy sự phát triển của ký sinh trùng kháng thuốc.

Tình hình bệnh sốt rét

  • Năm 2013 có 35.406 ca sốt rét được ghi nhận, trong đó có 17.128 ca xác định có ký sinh trùng sốt rét.
  • 60% số ca xác nhận sốt rét là do ký sinh trùng Plasmodium falciparum gây ra. 6 ca tử vong do sốt rét được ghi nhận là bệnh nhân điều trị ở các bệnh viện.
  • Số liệu của Chương trình Quốc gia Phòng chống Sốt rét (NMCP) cho thấy trong giai đoạn từ 2000 đến 2010 tỷ lệ mắc mới sốt rét đã giảm 81% và số ca tử vong do sốt rét giảm 86%.
  • 16 tỉnh không còn bệnh sốt rét lưu hành. 33 tỉnh gần loại trừ được sốt rét.
  • Tình trạng kháng thuốc sốt rét từ lâu đã là một vấn đề ở Việt Nam. Sốt rét kháng thuốc artemisinin được xác nhận đầu tiên ở tỉnh Bình Phước năm 2010 và ở Tây Nguyên năm 2011-2012.
  • Tính đến năm 2013, bốn tỉnh (Quảng Nam, Gia Lai, Dak Nông và Bình Phước) đã cho thấy bằng chứng kháng artemisinin.
  • Kế hoạch ngăn chặn sốt rét kháng thuốc đã nhanh chóng được xây dựng, song tới nay mới được cấp rất ít kinh phí từ ngân sách quốc gia.
  • Sốt rét vẫn là một vấn đề y tế công cộng quan trọng và Chương trình Quốc gia Phòng chống Sốt rét nhận được sự hỗ trợ chính trị mạnh mẽ; mới đây Bộ Y tế một lần nữa khẳng định sốt rét là một trong năm bệnh truyền nhiễm được quan tâm ưu tiên của Việt Nam.
  • Từ trước tới nay việc kiểm soát vector truyền bệnh sốt rét và bảo vệ cá nhân chủ yếu dựa vào việc sử dụng màn ngủ tẩm hóa chất diệt muỗi thông thường. Chính sách này đã được cập nhật với sự thông qua việc sử dụng loại màn ngủ tẩm hóa chất có tác dụng tồn lưu dài (LLIN) làm tiêu chuẩn quốc gia, mặc dù thay đổi này vẫn còn chờ được cấp kinh phí thực hiện.
  • Màn đơn tẩm hóa chất có tác dụng tồn lưu dài hay võng và màn võng tẩm hóa chất có tác dụng tồn lưu dài bổ sung đã được phát cho dân di biến động và người đi rừng khi cần thiết.
  • Phun tồn lưu hóa chất trong nhà (IRS) được áp dụng như biện pháp dự phòng thông thường ở một số vùng, đồng thời là biện pháp ứng phó bùng phát dịch. Khả năng đáp ứng khi có dịch được đánh giá là đủ.

Đáp ứng của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) gồm:

  • Đáp ứng của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) gồm:
    • Hỗ trợ xây dựng kế hoạch quốc gia theo dõi và đánh giá (M&E) sốt rét;
    • Hỗ trợ triển khai thực hiện chương trình Ứng phó Khẩn cấp với Sốt rét Kháng Artemisinin (ERAR) tại tiểu vùng sông Mê Kông; khung hành động khu vực giai đoạn 2013-2015;
    • Hỗ trợ duy trì các địa bàn trọng điểm cho nghiên cứu hiệu quả điều trị để theo dõi tình hình kháng artemisinin;
    • Hỗ trợ kỹ thuật và kinh phí cho việc triển khai thực hiện chiến lược ngăn chặn kháng artemisinin;
    • Hỗ trợ theo dõi tình hình kháng hóa chất;
    • Hỗ trợ xây dựng các đề cương xin kinh phí;
    • Hỗ trợ xây dựng chiến lược loại trừ P falciparum tại Việt Nam.