Kiểm soát nhiễm khuẩn

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Người bệnh bị phơi nhiễm các nguy cơ nhiễm khuẩn khi đến khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế, đặc biệt khi họ trải qua điều trị và thủ thuật xâm lấn.
  • Nhiễm khuẩn bệnh viện (HAIs) tác động tới bệnh nhân, người nhà của họ, nhân viên y tế và cơ sở y tế. Nhiễm khuẩn bệnh viện là nguyên nhân quan trọng gây bệnh tật và tử vong, và làm tăng chi phí y tế.
  • Một trường hợp nhiễm khuẩn thường được coi là nhiễm khuẩn bệnh viện nếu xảy ra ≥48 giờ sau khi nhập viện.
  • Phòng chống nhiễm khuẩn (IPC), mặc dù thường bị coi nhẹ và không được hỗ trợ đúng mức, là một phần thiết yếu của cơ sở hạ tầng y tế.
  • Thực hành IPC tối thiểu được khuyến cáo trong cơ sở y tế là tất cả nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, dù mới bị nghi hay khẳng định đã bị nhiễm khuẩn, đều áp dụng biện pháp phòng ngừa chuẩn (SP).
  • Thành phần khuyến cáo của phòng ngừa chuẩn SP gồm thực hành/sử dụng đúng cách những điều sau: vệ sinh bàn tay; vệ sinh hô hấp và che miệng khi ho; phương tiện phòng hộ cá nhân; làm sạch môi trường; xử lý chất thải; phòng tránh thương tích do vật sắc nhọn; xử lý đồ vải và dụng cụ chăm sóc bệnh nhân; lau chùi, khử khuẩn và tiệt trùng dụng cụ.
  • Không áp dụng các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh lây lan, khiến cơ sở y tế trở thành nơi làm lây lan bệnh trong các đợt bùng phát dịch – ảnh hưởng tới bệnh viện cũng như sức khỏe cộng đồng.
  • Sự xuất hiện của những bệnh truyền nhiễm đe dọa tính mạng con người như Hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS), các bệnh sốt xuất huyết do vi rút (như nhiễm vi rút Ebola và Marburg) và vi trùng đa kháng thuốc (như lao đa kháng thuốc và staphylococcus aureus kháng methicillin) làm dấy lên sự cần thiết cấp bách phải có thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn hiệu quả trong chăm sóc y tế.
  • Có bốn dạng nhiễm khuẩn bệnh viện chính, đều liên quan đến thủ thuật xâm lấn hoặc phẫu thuật. Đó là:
    • Nhiễm trùng đường tiết niệu do đặt ống thông;
    • Viêm phổi liên quan đến thở máy;
    • Nhiễm trùng vết mổ;
    • Nhiễm trùng máu liên quan đến ống thông;
  • Đường lây nhiễm chính là lây qua tiếp xúc (chia thành: lây nhiễm trực tiếp và lây nhiễm gián tiếp); nhiễm trùng qua các giọt bắn khi ho hoặc hắt hơi; nhiễm trùng lây truyền qua không khí; nguồn lây nhiễm thông thường; lây truyền qua vector.
  • Nếu bùng phát dịch lan đến những cơ sở y tế không có thực hành an toàn, hệ thống y tế sẽ có nguy cơ bị gián đoạn.
  • Đáp ứng nhanh với những mối đe dọa về y tế công cộng đòi hỏi phải có cảnh báo sớm. Các cơ sở y tế ở vị trí tiền tuyến trong ngăn ngừa và ứng phó dịch bệnh, và các hệ thống giám sát bệnh viện và giám sát y tế công cộng cần được liên kết một cách chính thức và hiệu quả để đảm bảo có được cảnh báo sớm.

Đáp ứng của WHO

  • Thống nhất với Điều lệ Y tế Quốc tế (2005) và Chiến lược Kiểm soát các Bệnh mới nổi ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, Văn phòng WHO tại Việt Nam đang cung cấp hỗ trợ kỹ thuật với những hoạt động sau:
    • Hỗ trợ mua sắm và phân bổ trang thiết bị kiểm soát nhiễm khuẩn;
    • Hỗ trợ xây dựng các hiệp hội Kiểm soát nhiễm khuẩn, bao gồm việc xây dựng các trang web để chia sẻ thông tin;
    • Xây dựng năng lực ở cấp khu vực, cấp tỉnh và huyện thông qua đào tạo về dịch tễ học trong y tế và kỹ thuật giám sát bệnh;
    • Xây dựng và triển khai thực hiện chính sách và hướng dẫn kỹ thuật dựa vào bằng chứng;
    • Thiết lập cơ chế hỗ trợ tuân thủ thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn
  • Bênh cạnh những hoạt động trên, WHO cũng làm việc với Bộ Y tế trong một số lĩnh vực khác liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn, gồm:
    • Thành lập ủy ban đa ngành về kiểm soát nhiễm khuẩn;
    • Hỗ trợ Bộ Y tế xây dựng và củng cố sẵn sàng ứng phó và đáp ứng dịch bệnh và nguy cơ đại dịch trong một số lĩnh vực;
    • Thí điểm thiết lập hệ thống giám sát kháng thuốc;
    • Tạo cơ hội xây dựng quan hệ đối tác mới, chia sẻ chuyên môn, phát triển kỹ năng và nâng cao năng lực kiểm soát nhiễm khuẩn ở tất cả các cấp của hệ thống y tế.