HIV/AIDS

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Điều trị bằng thuốc kháng vi rút (Điều trị ARV) có thể giúp khống chế được vi rút và giúp người nhiễm HIV có một cuộc sống khỏe mạnh và có ích. Điều trị ARV cũng giúp ngăn chặn sự lây lan của HIV.
  • Mặc dù số người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng vi rút ở Việt Nam ngày càng tăng, song vẫn còn một nửa số người cần được điều trị mà chưa được tiếp cận với thuốc điều trị.
  • Ngoài việc được điều trị ARV, sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục và dùng bơm kim tiêm riêng, sạch khi tiêm chích ma túy vẫn là các biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự lây truyền của HIV.
  • Ở Việt Nam dịch HIV tập trung chủ yếu ở những nhóm có nguy cơ cao nhất, như những người tiêm chích ma túy, người bán dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới.
  • Từ năm 2011, Việt Nam đã thí điểm Sáng kiến Điều trị HIV 2.0, một phương pháp tiếp cận điều trị hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích với chi phí thấp, đồng thời có tính bền vững nhằm ngăn chặn và đẩy lùi đại dịch HIV.

Tình hình dịch HIV

  • Dịch HIV ở Việt Nam vẫn tập trung ở những quần thể có nguy cơ cao nhất (như người tiêm chích ma túy, người bán dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới). Sự lây nhiễm HIV ở phụ nữ chủ yếu là từ bạn tình của họ, là những người thuộc nhóm quần thể đã nêu.
  • Hệ thống giám sát trọng điểm huyết thanh học HIV được bắt đầu triển khai tại Việt Nam từ năm 1994, và tính đến nay đã có 10 tỉnh có báo cáo về tỷ lệ nhiễm hiện HIV ở cả sáu nhóm đối tượng đích
  • Từ năm 1996 hệ thống giám sát trọng điểm HIV đã được triển khai ở 20 tỉnh/thành phố, đến năm 2001 triển khai tại 30 tỉnh/thành phố và từ năm 2003 tăng lên 40 tỉnh/thành phố. Năm 2009, Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội, nên óc 39 tỉnh/thành phố tiến hành giám sát trọng điểm HIV hàng năm.
  • Các quần thể được giám sát bao gồm người tiêm chích ma túy, nữ giới bán dâm, bệnh nhân đến các cơ sở điều trị lây nhiễm qua đường tình dục (STI) và cơ sở điều trị lao, phụ nữ mang thai đến khám ở các cơ sở sản khoa và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Việc bổ sung thêm các nhóm đối tượng khác để thực hiện giám sát trọng điểm sẽ do chính quyền địa phương quyết định.
  • Từ năm 2011, nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục đồng giới đã được đưa vào là một trong các nhóm đối tượng đích trong giám sát trọng điểm ở một số tỉnh/thành phố.

Can thiệp dự phòng

  • Hoạt động phân phát bơm kim tiêm đã được duy trì, với khoảng 30 triệu bơm kim tiêm được phân phát vào năm 2011 (đủ để cung cấp ít nhất 1 bơm kim tiêm/ngày cho khoảng 80.000 người tiêm chích ma túy).
  • Trong năm 2011 đã phân phát hơn 28,7 triệu chiếc bao cao su ở 57 tỉnh/thành phố.
  • Những kết quả trên đạt được chủ yếu thông qua hoạt động của hơn 3.500 nhân viên tiếp cận cộng đồng do cơ quan y tế tuyến quận/huyện và tỉnh/thành phố huy động để phối hợp làm việc với các cơ sở vui chơi giải trí, khách sạn và nhà nghỉ tư nhân.
  • TCYTTG tiếp tục cộng tác với Cục Phòng, chống HIV/AIDS (VAAC) và các đối tác quốc tế khác để hỗ trợ mở rộng Chương trình Quốc gia về điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Từ sáu cơ sở thí điểm triển khai vào năm 2008, đến cuối tháng 8/2012 đã có 45 cơ sở triển khai điều trị methadone trên toàn quốc.
  • TCYTTG đã cùng với sáng kiến Một Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam đóng góp vào việc tạo môi trường thuận lợi để thay đổi những luật hành chính về xử phạt tạm giữ và vận động đóng cửa các “cơ sở cai nghiện bắt buộc” hay các trung tâm giáo dục lao động xã hội.

Chăm sóc và Điều trị

  • Năm 2011 trên toàn quốc có khoảng 248.500 người sống chung với HIV, trong số đó có 112.800 cần được điều trị bằng thuốc kháng vi rút.
  • Chương trình điều trị ARV ở Việt Nam đã được mở rộng rất nhanh chóng. Tính đến cuối năm 2011, đã có 57.663 người lớn và 3.261 trẻ em được điều trị ARV, tăng 22 lần so với năm 2005. Độ bao phủ của chương trình điều trị ARV tính đến năm 2011 là 53% ở người lớn và 83% ở trẻ em
  • Tỷ lệ bệnh nhân duy trì điều trị ARV sau 12 tháng trung bình ở cả người lớn và trẻ em là trên 80% tính từ năm 2007 đến nay, điều này cho thấy chương trình điều trị ARV có các tác động tích cực đối với sức khỏe của người bệnh.

Thách thức

  • Mặc dù đã đạt được một số thành tựu, song vẫn còn nhiều thách thức đối với chương trình phòng chống HIV/AIDS. Gần một nửa số người cần được điều trị ARV vẫn chưa được tiếp cận với chương trình điều trị. Người bệnh đến với cơ sở điều trị ở giai đoạn rất muộn. 52,7% người bệnh có số lượng tế bào CD4 dưới 100 tế bào/mm3 khi bắt đầu điều trị ARV, và đây chính là yếu tố dẫn đến tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh cao và gánh nặng chi phí, đồng thời góp phần làm tăng tỷ lệ lây truyền HIV trong cộng đồng.
  • Người bệnh cần được chẩn đoán sớm hơn và cần được chăm sóc một cách liên tục đầy đủ từ khi được chẩn đoán, cần được chuyển gửi đến các cơ sở điều trị để và duy trì điều trị tốt hơn.
  • Bên cạnh đó, cũng cần có những đáp ứng tốt hơn để giải quyết gánh nặng của các bệnh đồng nhiễm. Bệnh lao vẫn là nguyên nhân chính gây ra tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao ở những người sống chung với HIV/AIDS (PLHIV). Tuy nhiên, theo ước tính, năm 2011 chỉ có khoảng 30,1% các trường hợp đồng nhiễm lao và HIV được điều trị đồng thời cả ARV và lao.
  • Tỷ lệ mắc viêm gan vi rút cũng rất cao, đặc biệt là tỷ lệ viêm gan C ở những người tiêm chích ma túy nhiễm HIV.
  • Cần thực hiện chẩn đoán HIV sớm trong quá trình mang thai, và mở rộng can thiệp điều trị ARV hiệu quả để giảm thiểu những trường hợp nhiễm HIV ở trẻ sơ sinh.

Đáp ứng của TCYTTG

Thông tin chiến lược

  • TCYTTG tại Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam thực hiện các nghiên cứu có chất lượng, giúp cho việc đặt ra những ưu tiên cho các hoạt động giám sát khi có rất nhiều nghiên cứu đang triển khai, đồng thời đảm bảo số liệu điều tra được phân tích tốt và được công bố giúp cho việc xây dựng kế hoạch cho các chương trình hành động.
  • TCYTTG đã thúc đẩy việc xây dựng bộ câu hỏi hành vi cơ bản lồng ghép với giám sát trọng điểm. TCYTTG sẽ tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động này.
  • Việc triển khai lồng ghép câu hỏi hành vi vào giám sát trọng điểm đã được mở rộng, từ hai tỉnh thí điểm lên 7, 12 và cuối cùng là 29 tỉnh vào năm 2012.
  • Hoạt động này sẽ được Chính phủ phê duyệt, và sẽ được bắt đầu cấp toàn bộ kinh phí vào năm 2013.
  • Việc phân tích số liệu do các tỉnh thực hiện, nhằm xây dựng ý thức làm chủ, sau đó sẽ được tổng hợp và phân tích số liệu cấp quốc gia với sự cộng tác của TCYYTG.

Can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS

  • Chính phủ Việt Nam đã ứng phó với bệnh dịch HIV/AIDS. Luật Phòng chống HIV/AIDS ra đời vào năm 2006, đi kèm với Nghị định 108/2007/ND-CP được ban hành vào năm 2007 và Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2012 đều kêu gọi thực hiện các can thiệp giảm thiểu tác hại, như các chương trình phân phát bơm kim tiêm, chương trình khuyến khích sử dụng bao cao su và điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho các nhóm đối tượng có nguy cơ.
  • Trong khuôn khổ pháp lý đó, Bộ Y tế được chỉ định làm cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm thực hiện và điều phối các hoạt động phòng chống, chẩn đoán và điều trị HIV, bao gồm cả các hoạt động can thiệp giảm thiểu tác hại.
  • TCYTTG là cơ quan hỗ trợ kỹ thuật chính cho các hoạt động can thiệp dự phòng và giảm thiểu tác hại.
  • Năm 2004, dự án tài trợ lớn trong dự phòng HIV/AIDS đầu tiên (Dự án phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam) được bắt đầu triển khai ở 19 tỉnh và 2 thành phố. Dự án được thực hiện thành công nhờ có sự hỗ trợ tài chính của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và Cơ quan Hợp tác Phát triển Na Uy (NORAD), với sự hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ hành chính ban đầu của TCYTTG.
  • Từ năm 2012, TCYTTG cũng hỗ trợ hợp phần can thiệp dự phòng trong khuôn khổ của Quỹ Toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét (GFATM).

Chăm sóc & Điều trị

Là một tổ chức trong sáng kiến Một LHQ tại Việt Nam, TCYTTG cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ Y tế, các Viện liên quan và các đối tác khác trong nỗ lực nhằm đạt được tiếp cận phổ cập với các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị và dự phòng lây nhiễm HIV.

  • TCYTTG thúc đẩy chiến lược sử dụng thuốc kháng vi rút để tối ưu hóa lợi ích sống còn cho người bệnh và lợi ích trong dự phòng lây nhiễm HIV.
  • TCYTTG cũng thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các hoạt động dự phòng, chẩn đoán và điều trị HIV, và chăm sóc liên tục để người nhiễm HIV được điều trị ARV sớm hơn, đạt kết quả điều trị tốt hơn.
  • TCYTTG hỗ trợ xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch, các hướng dẫn và các quy trình quốc gia về: chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV; Lao/HIV; phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (PMTCT); xét nghiệm và tư vấn HIV và chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV.
  • TCYTTG cũng hỗ trợ hoạt động theo dõi và giám sát HIV kháng thuốc.
  • TCYTTG đang xây dựng phương cách xét nghiệm HIV tại chỗ và tăng cường năng lực của các phòng xét nghiệm để hỗ trợ các dịch vụ HIV.
  • TCYTTG cũng đang phối hợp với Bộ Y tế và các đối tác khác để có thể triển khai chẩn đoán và điều trị viêm gan mãn tính.
Sáng kiến Điều trị 2.0
  • Sáng kiến Điều trị 2.0 là một sáng kiến toàn cầu do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc (UNAIDS) đưa ra với mục tiêu thúc đẩy việc mở rộng điều trị HIV thông qua các phương pháp tiếp cận đơn giản hóa và nhanh chóng.
  • Sáng kiến này bao gồm 5 lĩnh vực ưu tiên: 1) Tối ưu hóa phác đồ điều trị, 2) Cung cấp các phương tiện và công cụ chẩn đoán tại chỗ, đơn giản, 3) Giảm chi phí, 4) Tăng cường cung cấp dịch vụ phòng chống HIV/AIDS tại tuyến cơ sở, và 5) Huy động cộng đồng.
  • Năm 2011, Chính phủ Việt Nam đã quyết định triển khai thí điểm Sáng kiến điều trị 2.0 ở Điện Biên và Cần Thơ.
  • TCYTTG và UNAIDS đã phối hợp với các đối tác khác để hỗ trợ quá trình lập kế hoạch, đào tạo và triển khai thí điểm Sáng kiến điều trị 2.0.
Điều trị để dự phòng HIV (TasP)
  • Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc điều trị thuốc kháng vi rút cho người nhiễm HIV sẽ giúp ngăn ngừa được sự lây truyền của HIV và sự phát triển của bệnh lao (TB).
  • Trong những thập kỷ gần đây thuốc ARV đã được sử dụng để phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con.
  • TCYTTG đang phối hợp với các đối tác khác để hỗ trợ Bộ Y tế triển khai nghiên cứu tác nghiệp về điều trị để dự phòng lây nhiễm HIV đối với những cặp vợ chồng/bạn tình dị nhiễm, và để xác định chiến lược hiệu quả và các mục tiêu để áp dụng chiến lược TasP trong phòng chống dịch HIV/AIDS ở Việt Nam thông qua các mô hình nghiên cứu toán học.