Tài chính y tế
Thông tin cần biết
Các thông tin chính
- Tổng chi cho y tế năm 2010 của Việt Nam chiếm khoảng 7% GDP
- Trong đó chi tiêu từ ngân sách nhà nước chiếm 3% GDP, phần còn lại là chi tiêu tư cho y tế, chủ yếu là các khoản chi từ tiền túi người bệnh.
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho đơn vị cung ứng dịch vụ năm 2010 chiếm 24% tổng chi cho y tế, trong khi chi từ quỹ bảo hiểm y tế là 17%.
- Theo Luật Bảo hiểm Y tế được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ năm 2009, Nhà nước hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi.
- Năm 2010 tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 60% dân số, và đến tháng 6/2012 là 63%. Mục tiêu của Chính phủ là đến năm 2015 có 75% dân số tham gia BHYT và 90% vào năm 2020.
- Đa số người lao động thuộc khu vực kinh tế phi chính thức hoặc người dân sống ở nông thôn thường chưa tham gia BHYT.
Tình hình tài chính y tế
- Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng chi phí cho y tế. Một nghiên cứu do TCYTTG phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện cho thấy năm 2010 có 2,5% số hộ gia đình bị rơi vào cảnh đói nghèo và 3,9% số hộ gia đình phải đối mặt với khó khăn về tài chính do các khoản chi phí khám chữa bệnh gây ra.
- Hệ thống tài chính y tế Việt Nam là sự hỗn hợp giữa tài chính y tế từ thuế, BHYT xã hội, và chi phí trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình (OOP). Các khoản chi từ tiền túi người bệnh chiếm hơn 50% tổng chi cho y tế năm 2010, và đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra chi phí ‘thảm họa’.
- Để giảm thiểu tác động tiêu cực của OOP, Chính phủ đã chọn BHYT làm cơ chế tài chính để đảm bảo tiếp cận chăm sóc y tế và bảo vệ hộ gia đình trước rủi ro tài chính. Từ 2009, người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi được Nhà nước hỗ trợ 100% phí bảo hiểm y tế. Chính phủ cũng hỗ trợ một phần phí BHYT cho học sinh và các đối tượng cận nghèo (có thu nhập sát trên mức nghèo), trong khi người lao động hưởng lương phải đóng phí bảo hiểm y tế bắt buộc.
Thách thức
- Việc tăng thêm tỷ lệ dân số tham gia BHYT dường như còn gặp nhiều khó khăn. Phương thức đăng ký tham gia BHYT hiện nay là cho từng cá nhân, chứ chưa phải đăng ký cho cả hộ gia đình; kết quả là một hệ thống BHYT manh mún. Các đối tượng phụ thuộc của người lao động không được đăng ký bảo hiểm cùng người lao động và do đó nhiều người trong số họchưa được bao phủ. Mức độ tuân thủ qui định mua BHYT cho người lao động của người sử dụng lao động còn thấp, độ bao phủ BHYT cho học sinh và người cận nghèo không được cao như mong đợi, trong khi việc tăng cường pháp chế của Chính phủ vẫn chưa được hiệu quả.
- Công tác tập trung nguồn lực và chia sẻ rủi ro chưa được thực hiện dựa trên các nguyên tắc rõ ràng. Do đó, với phương thức thanh toán trả sau, thu động, việc sử dụng quỹ thường có lợi hơn cho các vùng giàu có và các cơ sở y tế tuyến trên
- Phương thức chi trả cho cơ sở y tế dựa trên phí dịch vụ, do đó khuyến khích cơ sở y tế cung ứng dịch vụ quá mức cần thiết. Gói quyền lợi bảo hiểm và danh mục thuốc cho người bệnh còn quá chung chung và không dựa trên các tiêu chí chi phí hiệu quả.
- Giá thuốc không được kiểm soát chặt chẽ. Qui trình đấu thầu thuốc được phân cấp và do cơ sở y tế tự tiến hành. Kết quả là cùng một loại thuốc được bán với giá rất khác nhau trong cùng một tỉnh và giữa các tỉnh.
Đáp ứng của TCYTTG
Đáp ứng của TCYTTG tập trung vào bốn lĩnh vực chính sau:
- Xây dựng và thể chế hóa Tài khoản Y tế quốc gia. Việc này sẽ tạo cơ sở để theo dõi chi phí y tế sử dụng các nguồn lực trong nước và ngoài nước, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách cơ sở thông tin về mức chi phí y tế toàn quốc, ai chi trả, ai được hưởng lợi, và tác động của chi phí đó.
- Phát triển và cải tiến hệ thống BHYT, tập trung vào tăng tỷ lệ người tham gia bảo hiểm và hiệu quả bao phủ bảo hiểm – tức là lợi ích bảo hiểm và chi phí mà hệ thống đó thực sự bao phủ. Chú trọng cải thiện cơ chế thanh toán, giám sát các chỉ số hoạt động chủ chốt của hệ thống, hiệu suất và công bằng trong sử dụng nguồn lực, xây dựng chính sách BHYT, và quản lý hệ thống. Một hệ thống BHYT vững mạnh sẽ góp phần củng cố hệ thống y tế quốc gia nói chung.
- Xây dựng năng lực cho các đối tác chính phủ trong lĩnh vực tài chính y tế thông qua các khóa học được cấu trúc và thông qua hợp tác để giải quyết các vấn đề kỹ thuật.
- Nâng cao nhận thức của các nhà hoạch định chính sách về mối liên kết giữa sức khỏe, nghèo đói và tăng trưởng kinh tế, về chi phí chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, để xây dựng được những chính sách y tế và kinh tế có tính nhất quán, gắn kết, góp phần đạt được các mục tiêu y tế quốc gia.
