Thông tin cơ bản về ung thư trên thế giới và Việt Nam

Tháng 2 năm 2018

Các thông tin chính

  • Ung thư là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên thế giới với khoảng 14 triệu ca mới mắc hàng năm – theo số liệu của năm 2012(1).
  • Số ca mới mắc dự báo sẽ tăng khoảng 70% trong vòng 2 thập kỷ tới.
  • Ung thư là nguyên nhân thứ hai gây tử vong trên toàn cầu, với 8,8 triệu ca tử vong năm 2015. Trên thế giới, gần 1/6 ca tử vong là do ung thư.
  • Khoảng 70% số trường hợp tử vong do ung thư là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.
  • Khoảng một phần ba số ca tử vong do ung thư là do 5 yếu tố nguy cơ về hành vi và chế độ ăn: chỉ số khối cơ thể cao (thừa cân-béo phì), chế độ ăn ít trái cây và rau xanh, ít vận động thể lực, hút thuốc lá và uống rượu.
  • Hút thuốc là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư, chiếm khoảng 22% số ca tử vong do căn bệnh này.(2)
  • Viêm nhiễm mạn tính gây ung thư như như viêm gan, viêm cổ tử cung do HPV (một trong những vi-rút lây nhiễm qua đường tình dục) gây ra khoảng 25% các ca mắc ung thư ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.(3)
  • Đến khám muộn và không được tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán và điều trị là rất phổ biến. Năm 2015, chỉ 35% các nước thu nhập thấp cho biết là có dịch vụ giải phẫu bệnh tại các cơ sở y tế công lập. Hơn 90% nước thu nhập cao có dịch vụ điều trị ung thư trong khi đó tỷ lệ này ở các nước có thu nhập thấp chỉ chưa tới 30%.
  • Tác động kinh tế của ung thư rất lớn và ngày càng tăng. Tổng chi phí kinh tế hàng năm do ung thư năm 2010 ước tính xấp xỉ 1,16 nghìn tỉ đô-la.(4)
  • Chỉ có 1/5 các nước có thu nhập thấp và trung bình có số liệu cần thiết cho xây dựng chính sách về phòng chống ung thư.(5)

Một số thông tin về Ung thư tại Việt Nam

  • Ung thư là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở Việt Nam với khoảng 95.000 ca tử vong mỗi năm
  • Hàng năm có khoảng 125.000 trường hợp mới mắc ung thư
  • Ung thư phổ biến nhất ở nam giới là ung thư phổi, ung thư gan, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng và ung thư vòm họng.
  • Ung thư phổ biến nhất ở nữ giới là ung thư vú, ung thư phổi, ung thư gan, ung thư cổ tử cung và ung thư dạ dày.
  • Khoảng 71,4% trường hợp ung thư tới bệnh viện khi đã ở giai đoạn muộn.
  • Một số yếu tố nguy cơ gây ung thư liên quan đến hành vi và chế độ ăn bao gồm thói quen hút thuốc lá ở nam giới (45,3%), uống rượu bia ở nam giới (77.3%), chế độ ăn ít rau và trái cây (57.2%), và thiếu hoạt động thể lực (28.1%)

Ung thư là thuật ngữ gốc nói tới các nhóm bệnh mà có thể ảnh hưởng tới bất kỳ bộ phận nào của cơ thể. Các thuật ngữ khác được sử dụng bao gồm u ác tính hoặc khối u. Đặc điểm của ung thư là sự tăng sinh nhanh các tế bào bất thường vượt ra ngoài vùng sinh sống bình thường của chúng và các tế bào này có thể xâm nhập vào các khu vực lân cận của cơ thể và lan tỏa ra các cơ quan nội tạng khác, hay còn gọi là di căn. Di căn là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư.

Gánh nặng ung thư

Ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, gây ra khoảng 8,8 triệu ca tử vong năm 2015. Ung thư phổ biến nhất gây tử vong là:

  • Ung thư phổi (1,69 triệu ca tử vong)
  • Ung thư gan (788 000 ca tử vong)
  • Ung thư đại trực tràng (774 000 ca tử vong)
  • Ung thư dạ dày (754 000 ca tử vong)
  • Ung thư vú (571 000 ca tử vong)

Nguyên nhân gây ung thư là gì?

Ung thư xuất hiện là do quá trình chuyển đổi các tế bào bình thường thành các tế bào khối u trong một quá trình gồm nhiều giai đoạn thường diễn biến từ tổn thương tiền ung thư tới u ác tính. Những thay đổi này là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố gen của một người và 3 nhóm yếu tố bên ngoài, bao gồm:

  • Các yếu tố vật lý gây ung thư như bức xạ tia cực tím và ion hóa;
  • Các chất hóa học gây ung thư như a-mi-ăng, các thành phần của khói thuốc lá, aflatoxin (chất gây ô nhiễm thức ăn), và a-xen (chất gây ô nhiễm nước sinh hoạt); và
  • Các chất gây ung thư sinh học như một số virút, vi khuẩn hoặc kí sinh trùng nào đó.

Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) – thông qua cơ quan nghiên cứu ung thư, Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC), tạo ra một hệ thống phân loại các chất gây ung thư.

Già hóa là một yếu tố cơ bản khác làm gia tăng ung thư. Tỷ lệ mắc mới ung thư tăng nhanh theo tuổi, phần lớn là do sự tích lũy các nguy cơ gây một số loại ung thư liên quan tới tuổi già. Tích lũy nguy cơ được kết hợp với xu hướng cơ chế sửa chữa tế bào trở nên kém hiệu quả hơn khi con người già đi.

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư

Hút thuốc lá, uống rượu bia, ăn uống không hợp lý và ít hoạt động thể lực là những yếu tố nguy cơ chính gây ung thư trên thế giới và đây cũng là 4 yếu tố nguy cơ gây các bệnh không lây nhiễm khác.

Một số tình trạng viêm mạn tính cũng là yếu tố nguy cơ gây ung thư và khá phổ biến ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Khoảng 15% ung thư được chẩn đoán năm 2012 là do nguyên nhân viêm nhiễm, bao gồm vi khuẩn HP (Helicobacter pylori- gây viêm loét dạ dày), vi-rút HPV (Human papillomavirus, gây viêm cổ tử cung), vi-rút viêm gan B, vi-rút viêm gan C và vi-rút Epstein-Barr(3).

Vi-rút viêm gan B và C và một số loại HPV làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan và ung thư cổ tử cung. Nhiễm HIV cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư như là ung thư cổ tử cung.

Giảm gánh nặng ung thư

Khoảng 30–50% ung thư có thể phòng ngừa được. Có thể phòng ngừa được ung thư bằng cách tránh các yếu tố nguy cơ và triển khai các chiến lược phòng chống ung thư dựa trên bằng chứng hiện có. Có thể giảm gánh nặng ung thư thông qua việc phát hiện sớm và quản lý điều trị bệnh nhân. Nhiều loại ung thư có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị đầy đủ.

Kiểm soát các yếu tố nguy cơ

Kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể giảm mạnh gánh nặnh ung thư. Các yếu tố nguy cơ này gồm:

  • Hút thuốc lá bao gồm thuốc lá điếu và thuốc lá không khói
  • Thừa cân hoặc béo phì
  • Chế độ ăn không lành mạnh, ít trái cây và rau xanh
  • Thiếu hoạt động thể lực
  • Uống rượu bia
  • Nhiễm HPV (vi rút gây viêm cổ tử cung) do lây truyền qua đường tình dục
  • Viêm gan hoặc các viêm nhiễm sinh ung thư khác
  • Bức xạ -ion hóa và tia cực tím
  • Ô nhiễm không khí đô thị
  • Khói trong nhà từ hộ gia đình sử dụng chất đốt rắn.

Hút thuốc là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư và gây ra khoảng 22% ca tử vong do ung thư trên toàn cầu(2).

Triển khai các chiến lược dự phòng ung thư

Để phòng chống ung thư, người dân có thể:

  • Tránh các yếu tố nguy cơ như nêu ở trên;
  • Tiêm vắc-xin phòng HPV và vi-rút viêm gan B;
  • Kiểm soát các yếu tố nguy hại nghề nghiệp;
  • Giảm tiếp xúc bức xạ tia cực tím;
  • Giảm tiếp xúc bức xạ i-on hóa (nghề nghiệp hoặc chẩn đoán hình ảnh trong y tế).

Tiêm vắc-xin phòng HPV và viêm gan B có thể phòng tránh được 1 triệu ca ung thư mỗi năm(3).

Phát hiện sớm

Có thể giảm tỷ lệ tử vong do ung thư nếu các ca bệnh được phát hiện và điều trị sớm. Có hai thành phần can thiệp trong phát hiện sớm:

Chẩn đoán sớm

Khi được phát hiện sớm, điều trị ung thư sẽ đáp ứng hiệu quả hơn, bệnh nhân có cơ hội sống thêm cao hơn, ít mắc bệnh hơn và điều trị ít tốn kém hơn. Cuộc sống của người bệnh ung thư sẽ tốt hơn rất nhiều nếu họ được phát hiện sớm và không bị chậm trễ trong điều trị và chăm sóc.

Chẩn đoán sớm gồm 3 bước cần được lồng ghép và kịp thời:

  • Tăng nhận thức và tiếp cận chăm sóc
  • Chẩn đoán và xác định giai đoạn bệnh
  • Tiếp cận điều trị.

Chẩn đoán sớm phù hợp trong mọi bối cảnh và đúng với phần lớn các loại ung thư. Khi không được chẩn đoán sớm thì điều trị hiệu quả có thể không còn. Các chương trình có thể được thiết kế để giảm sự chậm trễ, rào cản, tới việc chăm sóc và cho phép người bệnh tiếp cận điều trị kịp thời.

Sàng lọc

Sàng lọc nhằm mục đích phát hiện những người có các dấu hiệu bất thường, gợi ý mắc một loại ung thư hoặc tiền ung thư nào đó – tức là vẫn chưa phát triển thành ung thư và triệu chứng ung thư, rồi sớm chuyển họ tới cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị.

Các chương trình sàng lọc có thể hiệu quả với một số loại ung thư khi các xét nghiệm phù hợp được sử dụng, có kết nối tới các bước khác trong quá trình sàng lọc và chất lượng được đảm bảo. Nói chung, chương trình sàng lọc là một can thiệp y tế công cộng phức tạp hơn nhiều so với chẩn đoán sớm.

Ví dụ về các phương pháp sàng lọc ung thư:

  • Quan sát cổ tử cung bằng mắt thường với nhuộm cổ tử cung bằng dung dịch axit acetic (VIA) để phát hiện ung thư cổ tử cung ở các nước có thu nhập thấp;
  • Xét nghiệm HPV nhằm phát hiện ung thư cổ tử cung;
  • Soi cổ tử cung (PAP) nhằm phát hiện ung thư cổ tử cung ở các nước có thu nhập trung bình và cao; và
  • Sàng lọc ung thư vú bằng chụp tuyến vú (mammography) ở các nước có hệ thống y tế tốt hoặc tương đối tốt.

Điều trị

Chẩn đoán đúng rất cần thiết cho việc điều trị đầy đủ và hiệu quả bởi vì mọi ung thư đều cần có phác đồ điều trị cụ thể, có thể gồm một hay nhiều hình thức như phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Xác định mục tiêu điều trị và chăm sóc giảm nhẹ là bước đầu tiên quan trọng, dịch vụ y tế cần được lồng ghép và hoạt động trên nguyên tắc lấy người bệnh làm trung tâm. Mục đích ban đầu là điều trị khỏi ung thư hoặc kéo dài cuộc sống cho người bệnh. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh cũng là một mục tiêu quan trọng. Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh, cần có sự hỗ trợ, chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ tâm lý.

Khả năng điều trị khỏi những trường hợp được phát hiện sớm

Một số loại ung thư phổ biến như ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư miệng, ung thư đại trực tràng có tỷ lệ điều trị khỏi cao nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ.

Khả năng điều trị khỏi cho một số loại ung thư

Một số loại ung thư thậm chí khi tế bào ung thư đã lan tỏa ra các bộ phận khác của cơ thể, như ung thư tinh hoàn, ung thư máu và ung thư hệ bạch huyết ở trẻ em có tỷ lệ điều trị khỏi cao nếu được điều trị phù hợp.

Chăm sóc giảm nhẹ

Chăm sóc giảm nhẹ là điều trị để làm giảm các triệu chứng gây ra bởi ung thư – chứ không phải là điều trị khỏi – và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình họ. Chăm sóc giảm nhẹ có thể giúp người bệnh sống thoải mái hơn. Đây là một nhu cầu nhân văn cấp thiết cho người bệnh trên toàn thế giới bị ung thư hoặc các bệnh mạn tính nguy hiểm khác, đặc biệt rất cần thiết cho những nơi có tỷ lệ cao bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn và cơ hội điều trị khỏi mong manh.

Có thể giúp giảm nhẹ đau đớn về thể xác, tâm sinh lý và tinh thần ở trên 90% bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn thông qua chăm sóc giảm nhẹ.

Các chiến lược chăm sóc giảm nhẹ

Các chiến lược y tế công cộng hiệu quả gồm chăm sóc tại nhà và tại cộng đồng là rất cần thiết hỗ trợ kiểm soát đau và chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh, gia đình người bệnh tại các khu vực nguồn lực hạn chế.

Cải thiện tiếp cận với thuốc giảm đau morphine đường uống trong điều trị các trường hợp đau do ung thư mức độ từ vừa phải tới trầm trọng mà có đến trên 80% bệnh nhân giai đoạn cuối gặp phải là bắt buộc.

Hành động của Tổ chức Y tế Thế giới

Năm 2013, Tổ chức Y tế Thế giới phát động động Kế hoạch hành động Toàn cầu về Phòng chống các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2013-2020 nhằm mục tiêu giảm 25% số ca tử vong sớm do ung thư, các bệnh lý tim mạch, đái tháo đường và các bệnh hô hấp mạn tính vào năm 2025.

- Kế hoạch Hành động Toàn cầu về phòng chống các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2013-2020

Tổ chức Y tế Thế giới và Cơ quan Nghiên cứu Ung thư quốc tế (IARC) đã phối hợp với các cơ quan Liên hợp quốc trong Nhóm Công tác Liên ngành của LHQ (UNIATF) về phòng chống các bệnh không lây nhiễm và các đối tác khác nhằm:

  • Đẩy mạnh cam kết chính trị cho phòng chống ung thư;
  • Phối hợp và tiến hành nghiên cứu nguyên nhân gây ung thư ở người và cơ chế sinh ung thư;
  • Theo dõi gánh nặng ung thư (là một phần trong sáng kiến toàn cầu về hệ thống ghi nhận ung thư);
  • Xác định các chiến lược ưu tiên về phòng chống ung thư;
  • Phát triển kiến thức mới và phổ biến kiến thức hiện có nhằm hỗ việc cung ứng và triển khai các can thiệp dựa trên bằng chứng về kiểm soát ung thư;
  • Xây dựng các tiêu chuẩn và công cụ hướng dẫn lập kế hoạch và triển khai can thiệp phòng chống, chẩn đoán sớm, sàng lọc, điều trị chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ kéo dài sự sống cho người bệnh;
  • Hỗ trợ mở rộng mạng lưới phòng chống ung thư với các đối tác và các chuyên gia ở cấp độ toàn cầu, khu vực và quốc gia;
  • Củng cố hệ thống y tế ở cấp độ quốc gia và địa phương nhằm hỗ trợ điều trị và chăm sóc cho người bệnh;
  • Thực hiện vai trò lãnh đạo toàn cầu cũng như hỗ trợ chuyên môn kĩ thuật cho Chính phủ các nước và các đối tác để xây dựng và duy trì các chương trình phòng chống ung thư cổ tử cung chất lượng cao;
  • Hỗ trợ kĩ thuật trong việc chuyển giao nhanh và hiệu quả các can thiệp tốt nhất cho các nước kém phát triển.

Tham khảo

(1)Ferlay J, Soerjomataram I, Ervik M, Dikshit R, Eser S, Mathers C et al. GLOBOCAN 2012 v1.0, Cancer Incidence and Mortality Worldwide: IARC CancerBase No. 11 (Tỷ lệ mắc mới và tử vong do ung thư trên thế giới:Cơ sở dữ liệu của IARC)
Lyon, France: International Agency for Research on Cancer; 2013.

(2)GBD 2015 Risk Factors Collaborators. Global, regional, and national comparative risk assessment of 79 behavioural, environmental and occupational, and metabolic risks or clusters of risks, 1990-2015: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015. Lancet. 2016 Oct; 388 (10053):1659-1724. (Đánh giá các yếu tố nguy cơ từ góc độ toàn cầu và quốc gia về 79 nguy cơ liên quan tới hành vi, môi trường, nghề nghiệp và chuyển hóa, hay nhóm các nguy cơ).

(3)Plummer M, de Martel C, Vignat J, Ferlay J, Bray F, Franceschi S. Global burden of cancers attributable to infections in 2012: a synthetic analysis. Lancet Glob Health. 2016 Sep;4(9):e609-16. doi: 10.1016/S2214-109X(16)30143-7. (Gánh nặng ung thư toàn cầu do nhiễm bệnh năm 2012: phân tích tổng hợp).

(4)Stewart BW, Wild CP, editors. World cancer report 2014
Lyon: International Agency for Research on Cancer; 2014.

(5) Global Initiative for Cancer Registry Development. International Agency for Research on Cancer
Lyon: France.