Thuốc thiết yếu

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Thuốc thiết yếu cứu mạng sống con người và được tiếp cận thuốc thiết yếu là một phần của việc thực hiện quyền về sức khỏe của mọi người.
  • Thuốc thiết yếu là những loại thuốc thỏa mãn được nhu cầu ưu tiên về chăm sóc sức khỏe của người dân, và được lựa chọn có tính tới sự phù hợp với y tế công cộng, bằng chứng về hiệu quả và độ an toàn của thuốc và so sánh về hiệu quả – chi phí với các loại thuốc khác.
  • Chính phủ các nước cần đảm bảo thuốc thiết yếu luôn sẵn có, đầy đủ, với dạng bào chế thích hợp, chất lượng bảo đảm và thông tin đầy đủ, với mức giá hợp với túi tiền của cá nhân và cộng đồng.
  • Tiếp cận thuốc thiết yếu là một phần trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc (MDGs). Mục tiêu thứ 8 nhằm phối hợp với các công ty dược phẩm cải thiện tiếp cận thuốc thiết yếu cho người dân ở các quốc gia đang phát triển.
  • Đảm bảo tiếp cận thuốc thiết yếu sẽ giúp đạt được và duy trì bền vững các mục tiêu Thiên niên kỷ khác, như giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh và tử vong mẹ, và đảm bảo tiếp cận phổ cập điều trị HIV/AIDS, lao, sốt rét và các căn bệnh chính khác.

Tình hình thuốc thiết yếu

  • Năm 2010 thị trường dược phẩm Việt Nam trị giá 1,827 tỉ USD và dự kiến sẽ đạt 3,304 tỉ USD vào năm 2015. Chi phí cho thuốc tính theo đầu người liên tục tăng qua các năm, đạt mức 22,5 USD/người năm 2010.
  • Mặc dù có một ngành công nghiệp dược phẩm mạnh, nhưng tiếp cận thuốc thiết yếu vẫn là mối quan ngại của y tế công cộng. Thuốc thiết yếu không sẵn có, giá lại cao. Mức độ sẵn có của các loại thuốc generic giá thấp nhất (IB) là 10.5 % trong khu vực y tế công và 23,8% trong khu vực tư nhân. Còn mức độ sẵn có của thuốc phát minh là 24.8% trong khu vực y tế công và 31.4% trong khu vực tư nhân.
  • Giá các loại thuốc đều cao. Giá thuốc generic giá thấp trong khu vực công cao gấp1,09 – 3,40 lần và khu vực tư nhân là 1,70 – 5,14 lần Giá tham khảo quốc tế (IRP), còn giá thuốc phát minh ở khu vực công gấp 10,53 - 38,62 lần, ở khu vực tư nhân gấp 12.8 - 41.54 lần so với Giá tham khảo quốc tế.
  • Giá thuốc quá cao so với khả năng chi trả. Ví dụ chi phí một tháng điều trị loét dạ dày – tá tràng bằng Omeprazole IB tương đương với 27 ngày lương (Hình 1).

Đáp ứng của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG)

  • Năm 2009, văn phòng đại diện TCYTTG tại Việt Nam đã tăng cường hỗ trợ cải thiện tiếp cận thuốc thiết yếu và dược phẩm ở Việt Nam. TCYTTG và Bộ Y tế đã ký kết Biên bản Ghi nhớ về hợp tác chiến lược trong lĩnh vực dược phẩm.
  • Biên bản Ghi nhớ bao gồm những chiến lược chủ yếu sau đây:
    • Tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân chi trả cho thuốc thiết yếu, đặc biệt chú ý đến bảo hiểm toàn diện cho người nghèo;
    • Xây dựng và ban hành Chính sách thuốc generic quốc gia để đảm bảo khả năng chi trả cho các loại thuốc an toàn và chất lượng;
    • Thành lập Hội đồng Chính sách giá thuốc;
    • Đảm bảo sẵn có thuốc thiết yếu ở cơ sở y tế các cấp, đặc biệt quan tâm tới cơ sở y tế cấp huyện, xã và vùng sâu, vùng xa;
    • Tăng cường năng lực cho sản xuất thuốc thiết yếu trong nước đáp ứng nhu cầu y tế công cộng;
    • Hướng tới thực hiện quản lý tốt và trách nhiệm giải trình trong các khâu đăng ký, lựa chọn, mua sắm và cung ứng thuốc. Có cơ chế mạnh để theo dõi các xu hướng và tình huống dược phẩm sẽ là bước quan trọng hướng tới trách nhiệm giải trình và quản trị tốt;
    • Triển khai chương trình quốc gia về sử dụng thuốc hợp lý và an toàn thuốc;
    • Đảm bảo chất lượng và độ an toàn của thuốc thiết yếu trong chuỗi cung ứng;
    • Thành lập Hội đồng Thuốc Quốc gia làm cơ quan đưa ra các quyết định và chính sách có sự tham gia của các bên liên quan.
  • Ngoài ra, Văn phòng đại diện TCYTTG tại Việt Nam đã hỗ trợ Chính phủ và cộng tác với các đối tác trong việc xây dựng chính sách và thiết lập các hệ thống nhằm cải thiện tiếp cận thuốc thiết yếu, bao gồm:
    • Phối hợp giữa WHO-UNIDO-Bộ Y tế để thúc đầy sản xuất trong nước các loại thuốc generic đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý;
    • Đánh giá tình hình dược quốc gia, trong đó có đánh giá tác động của Chính sách quốc gia về thuốc và Luật Dược để cung cấp bằng chứng cho công tác hoạch định chính sách và ra quyết định;
    • Tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về thuốc;
    • Tăng cường năng lực của mạng lưới kiểm soát chất lượng thuốc ;
    • Thiết lập mạng lưới quốc gia về an toàn thuốc;
    • TCYTTG phối hợp với cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (VSS) xây dựng các chính sách để hạn chế chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc;
    • Phát động chương trình “Sử dụng thuốc hợp lý trong điều trị” để đảm bảo an toàn cho người bệnh và phòng ngừa sai sót trong dùng thuốc ;
    • TCYTTG cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để phát triển các chính sách và quy định về giá thuốc, cung cấp, phân phối và mua thuốc;