Sức khỏe môi trường
Thông tin cần biết
Các thông tin chính
- Trong vòng 50 năm qua, mức độ ô nhiễm môi trường đã tăng lên ở Việt Nam do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự phát triển của phương tiện giao thông cơ giới diễn ra với tốc độ nhanh, tạo ra ô nhiễm không khí đô thị, phát sinh chất thải rắn và chất thải nguy hại cũng như một loạt các thảm họa và tình huống khẩn cấp do con người gây ra,
- Ô nhiễm trong khu vực đô thị chủ yếu là do các hạt rắn lơ lửng, khí đi-ô xýt lưu huỳnh (SO2), đi ô-xýt ni-tơ (NO2) và ô-xýt các-bon (CO), xăng, chì và tiếng ồn.
- Các mối lo ngại về sức khỏe đối với tác động từ các hạt bụi, bao gồm:
- ảnh hưởng tới quá trình hô hấp và hệ thống hô hấp
- làm hỏng các mô phổi
- ung thư,
- chết trẻ
- người già, trẻ em và người có bệnh phổi mãn tính, cúm hoặc hen, là những người đặc biệt nhạy cảm đối với ảnh hưởng của các hạt rắn.
- Quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh cũng làm ô nhiễm không khí. Bụi từ các nhà máy xi-măng bao trùm thành phố Hải Phòng, thành phố lớn thứ ba, vượt quá tiêu chuẩn chất lượng không khí quốc gia từ 3 đến 8 lần.
- Ở Hà Nội, các chất gây ô nhiễm không khí xung quanh đã đạt tới mức báo động. Nồng độ ô-xít các-bon cao hơn từ 1,5 đến 1,7 lần so với mức cho phép, đi ô-xýt ni-tơ cao hơn từ 2,5 đến 2,9 lần, các hạt rắn có thể lắng được có hàm lượng cao hơn từ 43 đến 60 lần và hàm lượng các hạt rắn lơ lửng cao hơn từ 5 đến 10 lần.
- Tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh ở Việt Nam vào khoảng 47 tấn/ngày. Nước thải phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 125,000 m3/ngày (Nguồn: Kế hoạch thực hiện Quy hoạch Xử lý Chất thải Y tế trong giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020).
- Việc tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm không khí vượt quá tầm kiểm soát của các cá nhân và đòi hỏi chính quyền các cấp, từ quốc gia tới khu vực và quốc tế phải hành động.
- Mức ô nhiễm không khí mà càng thấp thì càng tốt cho sức khỏe đường hô hấp và tim mạch (cả trước mắt và về lâu dài) của người dân.
Đánh giá tác động sức khỏe
- Đánh giá tác động sức khỏe (ĐTS) là một công cụ đánh giá các tác động về mặt sức khỏe của các chính sách, kế hoạch và các dự án trong các ngành kinh tế khác nhau, sử dụng các kỹ thuật định lượng, định tính và có sự tham gia của người dân.
- Đánh giá tác động sức khỏe (ĐTS) giúp các nhà ra quyết định lựa chọn các giải pháp thay thế và các biện pháp cải thiện để phòng ngừa bệnh tật, chấn thương thương tích và chủ động tăng cường sức khỏe.
- WHO hỗ trợ các công cụ và sáng kiến trong lĩnh vực ĐTS để cải thiện một cách năng động sức khỏe và phúc lợi trong tất cả các ngành.
- ĐTS được sử dụng để:
- Đánh giá các kế hoạch, dự án, chương trình hoặc chính sách trước khi triển khai thực hiện
- Dự báo các tác động sức khỏe của các đề xuất dự án, kế hoạch và chương trình
- Khuyến nghị các biện pháp giảm thiểu:
- để tăng tối đa các tác động có lợi và giảm thiểu các tác động có hại cho sức khỏe; và
- để gắn kết các nhà ra quyết định sao cho họ phải cân nhắc các tác động sức khỏe và các yếu tố quyết định sức khỏe trong quá trình đưa ra quyết định.
Các thách thức
- Sau một số năm được Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Y Tế phối hợp xây dựng, bản Kế hoạch hành động quốc gia về Sức khỏe Môi trường đã được trình lên chính phủ để phê duyệt, tuy nhiên bản kế hoạch này đã không được phê duyệt vào đầu năm 2012.
- Do vậy, Việt Nam sẽ phải đương đầu với các vấn đề sức khỏe môi trường mà không tuân theo một kế hoạch toàn diện và mang tính chất hệ thống nào.
- Hiện tại, 53,6% các cơ sở y tế đã có hệ thống xử lý nước thải. 95,6% chất thải y tế rắn được phân loại và thu gom. 69,2% bệnh viện có chất thải nguy hại được xử lý bằng lò đốt 2 buồng hoặc bằng các công nghệ thay thế không đốt hoặc thông qua hợp đồng xử lý với các dịch vụ bên ngoài.
- Hầu hết các lò đốt rác gây ô nhiễm không khí (khí đi ô-xin và fu-ran) do thiếu hệ thống làm sạch khí thải hoặc do vận hành không đúng quy trình quy phạm (nhiệt độ thấp). Nước thải y tế chưa qua xử lý trong nhiều trường hợp được thải bỏ trực tiếp ra ruộng lúa, sông ngòi, ao hồ, gây ô nhiễm và ảnh hưởng tới chuỗi thức ăn.
- Việt Nam thiếu số liệu về các nguồn thủy ngân trong các cơ sở y tế và nhận thức của cán bộ công nhân viên y tế và công chúng về tác hại của thủy ngân còn hạn chế.
- Chưa cơ sở y tế nào có quy trình chuẩn để phân loại chất thải có chứa thủy ngân
- Chất thải thủy ngân thông thường được thu gom và đốt cùng với các chất thải y tế khác trong lò đốt rác bệnh viện hoặc các lò đốt trung tâm, hoặc được đem đi chôn lấp trong bãi chôn lấp rác đô thị.
Hoạt động của WHO
- WHO đã hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Y Tế xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về Sức khỏe Môi trường (NEHAP) để trình lên chính phủ phê duyệt.
- Tuy nhiên, kế hoạch hành động này đã không được phê duyệt, một phần vì khái niệm sức khỏe môi trường và NEHAP còn mới lạ đối với các nhà hoạch định chính sách và phần khác là do kế hoạch này có phần trùng lắp với các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường.
- Cách tiếp cận sắp tới sẽ là giải quyết vấn đề sức khỏe môi trường một cách toàn diện, trong đó, kế hoạch trên đây cần phải được chỉnh sửa và trình phê duyệt lại trong thời gian tới.
- WHO đã và đang ủng hộ những nỗ lực nhằm xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà, tiến hành nghiên cứu tác động sức khỏe của ô nhiễm không khí tại các nút giao thông ở thành phố lớn cũng như nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại sức khỏe của ô nhiễm không khí.
- WHO đã hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý chất thải y tế, bao gồm kế hoạch hành động quốc gia, tiến hành đào tạo tập huấn cho cán bộ y tế. Các hướng dẫn về xử lý chất thải y tế và nước thải bệnh viện đã được xây dựng và đưa vào áp dụng.
- Với sự hỗ trợ của WHO, nghiên cứu thay thế công nghệ lò đốt rác thải y tế bằng các công nghệ thay thế như xử lý bằng lò vi sóng đã được tiến hành thử nghiệm.
- WHO đã và đang hỗ trợ cơ quan chức năng xây dựng quy chế về sử dụng thuốc trừ sâu và các chất khử trùng trong cơ sở y tế và ở hộ gia đình.
- WHO cũng đã hỗ trợ các nỗ lực nâng cao nhận thức về sử dụng thủy ngân trong các cơ sở y tế. Hướng dẫn về việc sử dụng thủy ngân sẽ được xây dựng trong giai đoạn 2012- 2013 và mô hình thí điểm về bệnh viện không sử dụng thủy ngân sẽ được triển khai trong giai đoạn 2012-2013.
