Tình trạng khẩn cấp và hành động nhân đạo

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Trong hơn 50 năm (1954-2006), Việt Nam đã phải gánh chịu 380 trận bão và áp thấp nhiệt đới.
  • Từ 1989 đến 2011, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có 567 người chết (kể cả người mất tích) do thảm họa thiên nhiên.
  • Cơn bão Ketsana năm 2009 đã ảnh hưởng tới 11 tỉnh ven biển khu vực miền Trung và Tây Nguyên, làm 172 người chết và gần 900 người bị thương.
  • Trung bình mỗi năm Việt Nam thiệt hại khoảng 1,9 tỉ USD tổng sản phẩm quốc nội theo sức mua GDP (PPP) (hay 1,3 % GDP)

Bảng 1: Thiệt hại do thiên tai trong các năm (1)


Year Deaths# including missing Injured# People affected# Houses destroyed* Houses damaged* Total estimated damage US (,000)#
1989 959 1,359 5,635,000 84,283 5,824 21,000
1990 384 308 510,000 10,614 1,112 725
1991 492 236 316,478 14,989 1,335 57,200
1992 287 33 178,234 7,320 1,445 66,100
1993 270 52 41,520 25,154 13,974 75,000
1994 361 34 393,000 5,917 6,093 253,300
1995 269 51 423,000 9,747 1,288 107,200
1996 1,056 591 1,051,206 74,856 17 751,420
1997 3,692 907 3,697,225 108,749 1,181 887,000
1998 647 97 2,520,665 13,380 17,406 121,900
1999 799 576 7,039,150 52,583 30,495 309,500
2000 592 215 5,027,505 12,198 7,432 291,035
2001 392 95 1,785,895 10,602 13,817 171,900
2002 147 116 2,733,500 75,739 76,914 284,200
2003 148 81 402,946 6,441 9,504 105,000
2004 231 23 535,951 4,766 16,725 38,000
2005 324 31 851,900 3,320 23,037 346,370
2006 579 2,010 2,994,720 75,010 140,855 1,099,000
2007 353 322 1,599,755 13,465 42,081 981,000
2008 411 163 776,330 5,148 9,945 673,500
2009 356 1,006 3,607,820 65,034 170 1,065,200
2010 221 103 1,522,710 6,054 Data not available 704,700
2011 76 2 Data not available 222 94,465 92,300

(1) Số liệu từ cơ sở dữ liệu EM-DAT. Trung tâm nghiên cứu Dịch tễ học thảm họa (CRED) và * số liệu của Ủy ban phòng chống lụt bão Trung ương. Do số liệu không đủ tin cậy, nhất là số liệu của những thập niên trước, nên có thể dùng số liệu này để thấy được mức độ thiệt hại hoặc để nêu bật xu hướng hơn là chỉ ra con số thiệt hại chính xác hàng năm.

Lũ lụt

  • Lũ lụt là một trong những thảm họa thiên nhiên thường gặp nhất ở Việt Nam. Bão và áp thấp nhiệt đới là nguyên nhân phổ biến nhất gây lũ và lũ quét vì áp thấp thường kéo theo mưa lớn. Do đó thường có cảnh báo lũ mỗi khi sắp có bão, vì bão lũ thường xảy ra rất nhanh. Ngược lại mùa nước lũ có xu hướng dâng cao dần ở vùng đồng bằng sông Mê Kông và khu vực sông Hồng, và thường là kết quả của mưa lớn kéo dài.

Bão và Áp thấp nhiệt đới

  • • Nằm ở khu vực Châu Á –Thái Bình Dương, Việt Nam thường có bão và áp thấp nhiệt đới. Mỗi năm Việt Nam gánh chịu từ 5-7 trận bão, phần lớn các trận bão và áp thấp nhiệt đới xảy ra từ khoảng tháng 7 đến tháng 11. Khu vực ven biển miền Trung là nơi hay phải gánh chịu bão và áp thấp nhiệt đới nhất. Người ta cho rằng do biến đổi khí hậu nên cả tần suất xảy ra và cường độ bão đều đã tăng so với những năm trước. Bão cùng với lũ lụt là nguyên nhân chính gây thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam. Ước tính có khoảng 62% dân số Việt Nam sống ở những vùng dễ bị ảnh hưởng của bão. Trong 50 năm qua đã có 20.000 người chết do bão so với con số 4.000 người chết do lũ lụt. Những trận bão tệ hại nhất trong thế kỷ này là trận bão năm 1964 khiến 7.000 người chết và bị thương, và trận bão Linda năm 1997 làm 3.600 người chết và hơn 1 triệu người mất nhà cửa.

Hạn hán

  • Sau bão và lũ, hạn hán đứng thứ ba về tần suất xảy ra trong các thảm họa thiên nhiên ở Việt Nam. Hạn hán có thể là do tác động bất lợi của thời tiết cực đoan, ngày càng xảy ra nhiều đợt hạn hán trên cả nước. Những vùng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của hạn hán là khu vực đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và khu vực Tây Nguyên. Mặc dù ít khi gây tai nạn và thương tích, song hạn hán thường có tác động lớn đối với tình trạng sức khỏe con người do thiếu nước sạch, điều kiện vệ sinh kém và suy dinh dưỡng.

Động đất

  • Động đất không phải thàm họa thiên nhiên thường thấy ở Việt Nam. Mặc dù trước kia từng có động đất, song thường với quy mô và cường độ thấp, không gây thiệt hại đáng kể. Động đất thường xảy ra ngoài khơi và ở các tỉnh miền núi vùng Tây Bắc. Ở miền Bắc Việt Nam có những cơn địa chấn với cường độ thấp tới trung bình, nhưng có tồn tại một số hệ thống đứt gãy lớn, khiến cho những vùng như đồng bằng sông Hồng, sông Mã và hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên có nguy cơ động đất cao.

Sóng thần

  • Việt Nam chưa từng bị sóng thần, tuy nhiên một trận động đất có cường độ 8 độ Richter hoặc mạnh hơn xảy ra ở khu vực rãnh nước sâu Manila (Philippines) có thể tác động tới khu vực ven biển miền Trung từ Đà Nẵng tới Quảng Ngãi. Đã có các hệ thống theo dõi sóng thần từ nguồn này.

Tình hình thiên tai

  • Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm khu vực dễ bị bão của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và rất hay có bão.
  • Thảm họa thiên nhiên dẫn đến tình trạng khẩn cấp về y tế và những quầm thể dân cư bị ảnh hưởng đặc biệt dễ bị tổn thương bởi những nguy cơ về sức khỏe, kể cả trong giai đoạn sau thiên tai và giai đoạn phục hồi.
  • Thách thức đối với Việt Nam là phải điều chỉnh các cơ chế khẩn cấp mới và hiệu quả cho phù hợp để đáp ứng nhu cầu của một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi.
  • Những rủi ro khác bao gồm:
    • Tác động của công nghiệp hóa, đa dạng hóa nền kinh tế và ô nhiễm;
    • Thiếu qui định hoặc thực thi qui định kém;
    • Biến đổi khí hậu, thay đổi thực hành trong quản lý đất đai và suy thoái môi trường.

Đáp ứng của Tổ chức Y tế Thế giới

  • TCYTTG đang đóng vai trò ngày càng tích cực trong việc hỗ trợ các nỗ lực của Việt Nam để sẵn sàng ứng phó với tác động của thiên tai.
  • TCYTTG phối hợp chặt chẽ với Chính phủ, các đối tác quốc tế và cơ quan trong nước để hỗ trợ các cộng đồng phòng chống, ứng phó và phục hồi sau tình trạng khẩn cấp, thảm họa và khủng hoảng.
  • Mục tiêu của TCYTTG là:
    • Vận động hỗ trợ chính trị và nguồn lực phù hợp để phòng chống, ứng phó và phục hồi sau thiên tai để cứu sinh mạng và giảm thiểu đau khổ khi xảy ra khủng hoảng;
    • Tăng cường năng lực và khả năng phục hồi của hệ thống y tế để giảm bớt và quản lý thiên tai;
    • Xây dựng quan hệ đối tác hiệu quả để quản lý tình trạng khẩn cấp và đảm bảo có sự phối hợp thích hợp;
    • Hỗ trợ đào tạp về ứng phó với tình trạng khẩn cấp và xây dựng năng lực nâng cao đầy đủ;
    • Xây dựng hướng dẫn dựa vào bằng chứng cho tất cả các giai đoạn ứng phó tình trạng khẩn cấp trong ngành y tế.