Bệnh không lây nhiễm

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Các bệnh không lây nhiễm phổ biến có chung 4 yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá, thiếu vận động thể lực, lạm dụng rượu-bia và chế độ ăn không hợp lý.
  • Bệnh không lây nhiễm có thể được giảm đáng kể với hàng triệu người được cứu sống và những đau đớn do bệnh tật có thể tránh được thông qua giảm thiểu những yếu tố nguy cơ và tăng cường hệ thống y tế, tập trung vào tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu để quản lý và chăm sóc cho người đã mắc NCD.
  • Trong khoảng 57 triệu trường hợp tử vong năm 2008 có 36 triệu, hay 63% là do bệnh không lây nhiễm.
  • Nguyên nhân hàng đầu của tử vong do NCD trên toàn cầu năm 2008 là bệnh tim mạch (17 triệu người, hay 48% số ca tử vong do NCD).
  • Khoảng 44% số ca tử vong do NCD là ở người dưới 70 tuổi.
    • Xây dựng và thực thi chính sách đối với sức khỏe người lao động.
    • Bảo vệ và năng cao sức khỏe nơi làm việc;
    • Cải thiện chất lượng và tiếp cận đối với các dịch vụ sức khỏe nghề nghiệp;
    • Cung cấp và truyền thông các bằng chứng cho hành động và thực hành;
    • Đưa sức khỏe người lao động vào chính sách và các dự án của các ngành khác ngoài ngành y tế (1)

Tình hình bệnh không lây nhiễm

  • Ở Việt Nam, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính:
    • Năm 2008 có 430.000 tử vong vì NCD, chiếm 75% tổng số tử vong.
    • Trong đó, tử vong do bệnh tim mạch chiếm 40%, ung thư 14%, bệnh đường hô hấp mạn tính 8% và đái tháo đường 3%.
  • Theo một điều tra quốc gia thực hiện năm 2009/10 (ở nhóm người 25 – 64 tuổi):
    • Tỷ lệ người bị thừa cân và béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường và tăng lipid máu lần lượt là 12,0%, 19,2%, 2,7% và 30,1%.
    • Tỷ lệ nam giới hút thuốc hàng ngày vẫn còn cao, tới 56,4%.
    • Khoảng 25% nam giới uống rượu ở mức gây hại.
    • Khoảng 80% người Việt Nam không ăn đủ lượng hoa quả và rau xanh.
    • Số người thiếu vận động thể lực chiếm 28,7%.
  • Chương trình phòng chống NCD đã được thành lập từ năm 2002 với các cấu phần đại diện cho từng nhóm NCD: tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư, bệnh đường hô hấp mạn tính và rối loạn tâm thần.
  • Mỗi cấu phần của chương trình từng bước được chuyển thành các dự án/tiểu dự án của Chương trình Mục tiêu quốc gia – những chương trình ưu tiên hàng đầu.
  • Tuy vậy, cho tới nay hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Có một số lý do sau:
    • Cho tới nay, Việt Nam vẫn áp dụng phương pháp tiếp cận đối với từng bệnh cụ thể trong phòng chống NCD, trong đó các bệnh viện chuyên khoa (như Bệnh viện K chuyên về ung thư và Bệnh viện Nội tiết chuyên về đái tháo đường) điều phối tất cả các hoạt động của quốc gia về lĩnh vực đó. Việt Nam đang đề xuất sửa đổi cách làm này nhằm tập trung hơn vào các yếu tố nguy cơ để dự phòng NCD phổ biến.
    • Là một quốc gia có nguồn lực hạn chế, triển khai chương trình quốc gia theo từng bệnh là không phù hợp về mặt tài chính. Kết quả là mức độ bao phủ của chương trình phòng chống NCD còn thấp.
    • Chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm chỉ bó hẹp trong ngành y tế, và hầu như không có hành động phối hợp liên ngành để giải quyết các yếu tố nguy cơ, trừ vấn đề hút thuốc lá nhưng lại thuộc về một chương trình riêng.
    • Tình trạng phân tách của hệ thống y tế, nhất là việc chia tách hai hệ điều trị và hệ y tế dự phòng, trong đó hệ y tế dự phòng có nhiều tiềm năng nhưng mới chỉ tham gia rất ít vào công tác phòng chống NCD, là một trong những rào cản chính trong lĩnh vực này.
  • Tuy nhiên, Việt Nam có những thế mạnh và cơ hội riêng để giải quyết những vấn đề này, như là có cam kết chính trị mạnh mẽ, hệ thống y tế được tổ chức tốt, có kinh nghiệm làm việc liên ngành khác để giải quyết vấn đề bệnh truyền nhiễm. Thế mạnh này có thể áp dụng cho công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm.
  • Nỗ lực của Bộ Y tế để cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, chủ yếu nhằm mục đích giảm tải cho các bệnh viện, cũng sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm.

Hỗ trợ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

  • WHO đã hỗ trợ thiết lập chương trình phòng chống NCD, đồng thời vận động đầu tư và hỗ trợ xây dựng chính sách, chiến lược phòng chống những bệnh này.
  • WHO vận động và hỗ trợ hành động liên ngành để phòng chống yếu tố nguy cơ NCD, bao gồm chuyển từ phương pháp tiếp cận theo từng bệnh sang phương pháp tiếp cận lồng ghép.
  • WHO đã cung cấp các hướng dẫn và mô hình chăm sóc liên tục cho bệnh nhân NCD. Ví dụ, WHO đã hỗ trợ các mô hình dựa vào cộng đồng, đặc biệt là mô hình lồng ghép để quản lý đồng thời một số NCD chủ yếu theo hướng dẫn của WHO.
  • WHO đã hỗ trợ xây dựng và triển khai hệ thống giám sát quốc gia NCD.
  • Sự hỗ trợ của WHO đã góp phần đạt được nhiều thành tựu trong công tác phòng chống NCD ở Việt Nam:
    • Chương trình phòng chống NCD đã trở thành Chương trình Mục tiêu quốc gia. Kế hoạch Hành động phòng chống NCD giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
    • Tiểu ban Dự phòng NCD trong Ban chỉ đạo phòng chống NCD quốc gia, với sự tham gia của các bộ ngành khác đã được thành lập để thúc đẩy hành động liên ngành phòng chống NCD.
    • Quản lý NCD đang được chuyển từ bệnh viện sang cộng đồng và nhân rộng.

(1) WHO Global Status Report on noncommunicable diseases, 2010 (Báo cáo tình trạng Toàn cầu về bệnh không lây nhiễm của WHO, 2010)