Bệnh tả và tiêu chảy cấp

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Tiêu chảy cấp được định nghĩa là tiêu chảy phân lỏng trên 3 lần/ngày (hoặc đi ngoài nhiều lần hơn bình thường). Tiêu chảy thường là triệu chứng nhiễm trùng đường ruột, có thể do vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng đường ruột gây ra. Bệnh lây qua thực phẩm hay nước uống bị nhiễm khuẩn, hay lây từ người sang người do thói quen vệ sinh kém.
  • Tiêu chảy được phân loại theo lâm sàng thành 3 loại:
    • tiêu chảy phân nước – kéo dài nhiều giờ hoặc nhiều ngày, bao gồm cả tả;
    • tiêu chảy phân có máu – hoặc lỵ; và
    • tiêu chảy kéo dài – tiêu chảy cấp kéo dài trên 14 ngày
  • Những biện pháp phòng bệnh chính bao gồm:
    • tiếp cận nước sạch
    • cải thiện vệ sinh môi trường
    • cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời
    • vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm tốt
    • giáo dục sức khỏe về đường lây truyền bệnh
  • Tả là bệnh nhiễm trùng gây tiêu chảy do ăn phải thức ăn hay nước uống bị nhiễm phẩy khuẩn tả Vibrio cholera. Cả trẻ em và người lớn đều có thể mắc tả và có thể bị tử vong trong vòng vài giờ nếu không được điều trị kịp thời.
  • Từ năm 1800 đã có bảy đợt dịch tả lớn hay đại dịch tả trên toàn cầu. Sáu đợt đại dịch liên tiếp xảy ra trên tất cả các lục địa, làm chết nhiều triệu người. Đợt đại dịch hiện nay (đại dịch thứ 7) bắt đầu năm 1961ở Nam Á, lan sang châu Phi vào năm 1971 và các nước châu Mỹ năm 1991. Bệnh tả hiện còn lưu hành ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
  • Những biến chủng mới của phẩy khuẩn tả đã được phát hiện ở nhiều khu vực châu Á và châu Phi. Quan sát cho thấy những chủng này gây bệnh tả nặng hơn với tỷ lệ tử vong cao hơn. Cần thực hiện giám sát dịch tễ cẩn thận đối với các chủng đang lưu hành.
  • Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng tình trạng ấm lên toàn cầu đã tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn tả phát triển.
  • Điều trị sớm giúp cứu được tính mạng của bệnh nhân mắc tiêu chảy và tả.
  • Sự lây truyền bệnh tiêu chảy và tả có khả năng liên quan tới tình trạng thiếu tiếp cận nước sạch, an toàn thực phẩm và điều kiện vệ sinh kém.
  • Có thể ngăn sự bùng phát của dịch bệnh tiêu chảy và bệnh tả bằng cách phát hiện và khẳng định sớm ca bệnh, tiếp đó là có biện pháp ứng phó phù hợp.
  • Một cách tiếp cận đa ngành trên cơ sở phòng ngừa, chuẩn bị sẵn sàng và ứng phó, cùng với hệ thống giám sát hiệu quả có ý nghĩa then chốt để giảm thiểu bùng phát dịch và kiểm soát bệnh tả ở những vùng lưu hành bệnh tà, và giảm tỷ lệ tử vong.

Tình hình bệnh tả và tiêu chảy cấp

  • Trong những bệnh phải khai báo ở Việt Nam, bệnh tiêu chảy là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Riêng năm 2009 đã có 930.496 ca mắc tiêu chảy, trong đó có 4 người chết.
  • Tả là một bệnh tái xuất hiện ở Việt Nam. Năm 2008 có 853 ca bệnh tả, không có người chết, năm 2009 có 479 người mắc tả, trong đó có một người chết, năm 2010 có 606 ca bệnh tả, không có người chết, và năm 2011 có ba ca mắc tả, không có người chết.

Đáp ứng của Tổ chức Y tế Thế giới

  • Tại Việt Nam TCYTTG hỗ trợ Bộ Y tế và các đối tác kỹ thuật chủ chốt khác bằng cách cung cấp hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật nhằm:
    • Thúc đẩy các chính sách và hướng dẫn hiện hành cho công tác quản lý ca bệnh tiêu chảy cấp và bệnh tả ở các quốc gia đang phát triển.
    • Củng cố các hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm của Việt Nam để nhanh chóng phát hiện và ứng phó bùng phát dịch.
    • Khống chế bùng phát dịch, không để bệnh lây lan, thông qua phát hiện sớm, biện pháp quản lý ca bệnh phù hợp và báo cáo ca bệnh.
    • Hỗ trợ đào tạo nhân viên y tế ở cấp quốc gia và cấp tỉnh.
    • Sử dụng Điều lệ Y tế Quốc tế (IHR 2005) làm khung đánh giá các sự kiện sức khỏe công cộng cấp tính có thể liên quan đến bệnh tả và khả năng lây lan qua biên giới.
    • Hỗ trợ nghiên cứu tác nghiệp, nghiên cứu triển khai và nghiên cứu ứng dụng.