Sức khỏe trẻ em

Thông tin cần biết

Các thông tin chính

  • Từ 1960 đến 1990, tử vong trẻ em ở các khu vực đang phát triển đã giảm ½ xuống 1 trẻ trong 10 trẻ tử vong trước 5 tuổi.
  • Trên toàn cầu, có 7,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong hàng năm, theo số liệu năm 2010. Như vậy là khoảng 900 cứ mỗi giờ đồng hồ.
  • Hơn một nửa số tử vong trẻ em sớm này là do những căn bệnh có thể phòng ngừa hay điều trị được nếu có tiếp cận với các can thiệp đơn giản và chi trả được.
  • Các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi là viêm phổi, biến chứng vì đẻ non, tiêu chảy, ngạt thở khi sinh, và sốt rét.
  • Trẻ em ở các nước có thu nhập thấp có khả năng tử vong trước 5 tuổi cao hơn 18 lần so với trẻ em ở các nước có thu nhập cao.
  • Nguy cơ tử vong của 1 đứa trẻ là cao nhất trong thời kỳ sơ sinh, 28 ngày đầu tiên của cuộc sống. Khoảng 40% tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi xảy ra trong thời kỳ này.
  • Đẻ non, các biến chứng liên quan trong khi đẻ (ngạt khi sinh hoặc không thở khi sinh), và các nhiễm khuẩn là nguyên nhân cho hầu hết những tử vong sơ sinh.
  • Từ khi kết thúc giai đoạn sơ sinh đến khi 5 tuổi, nguyên nhân chính gây tử vong là viêm phổi, tiêu chảy và sốt rét.
  • Suy dinh dưỡng là yếu tố đóng góp chính cho trên 1/3 tất cả tử vong trẻ em, khiến cho trẻ dễ bị cảm nhiễm hơn với bệnh nặng.
  • Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về sự sống còn của trẻ (MDG4) nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em xuốn 2/3 vào năm 2015 từ mức của năm 1990.
  • Để đạt được mục tiêu MDG4 sẽ cần phải có tỷ lệ bao phủ toàn dân với các can thiệp hiệu quả và chi trả được: chăm sóc trẻ sơ sinh và các bà mẹ; nuôi dưỡng trẻ nhỏ; vắc-xin; dự phòng và quản lý ca bệnh viêm phổi; tiêu chảy và nhiễm khuẩn; kiểm soát sốt rét; và dự phòng chăm sóc HIV/AIDS.
  • Tại các nước có tỷ lệ tử vong cao, các can thiệp này có thể làm giảm số lượng tử vong xuống hơn một nửa.
  • Để thực hiện các can thiệp này, TCYTTG tăng cường 4 chiến lược chính:
      • Chăm sóc tại nhà phù hợp và điều trị kịp thời các biến chứng cho trẻ sơ sinh;
      • Lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh (IMCI) cho tất cả trẻ em dưới 5 tuổi;
      • Chương trình tiêm chủng mở rộng (EPI);
      • Nuôi dưỡng trẻ nhỏ.
  • Những chiến lược sức khỏe trẻ em này được các can thiệp sức khỏe bà mẹ bổ sung, đặc biệt là chăm sóc với kỹ năng lành nghề khi mang thai và sinh đẻ.

Thực trạng

  • Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi, trẻ nhỏ và tỷ lệ suy dinh dưỡng đều đang giảm, và Việt Nam đang trên lộ trình đạt tới Mục tiêu Thiên Niên kỷ 4 – MDG4 (giảm tỷ lệ tử vong trẻ em xuống 2/3 vào năm 2015, từ mức của năm 1990).
  • Trên toàn quốc, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 53/1.000 trẻ sinh sống năm 1990 xuống 16/1.000 trẻ sinh sống vào năm 2011. Trong cùng thời gian, tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi giảm từ 44 xuống 14/1.000 trẻ sinh sống.
  • Tiêm chủng đã đóng góp rất đáng kể trong thành công bảo vệ trẻ em Việt Nam hàng năm khỏi bị các bệnh như sởi, bại liệt, bạch hầu và uốn ván.
  • Các chương trình kiểm soát bệnh tật cũng đã giải quyết các bệnh quan trọng như tiêu chảy, nhiễn trùng hô hấp cấp, sốt rét và suy dinh dưỡng.
  • Trẻ em dưới 6 tuổi được bảo hiểm y tế chi trả.

Thách thức

  • Tình trạng sức khỏe sơ sinh, các bệnh hô hấp và tiêu chảy vẫn là các nguyên nhân gây tử vong chính cho trẻ em ở Việt Nam.
  • Tỷ lệ mắc và tử vong do chấn thương, bao gồm đuối nước và tai nạn giao thông đang gia tăng.
  • Tử vong trẻ sơ sinh chiếm 60% tổng số tử vong trẻ dưới 5 tuổi (ước tính của TCYTTG năm 2011), vì vậy cần phải định hướng lại các chương trình sức khỏe trẻ em. Bộ Y tế đã xác định sức khỏe sơ sinh là một ưu tiên trong Kế hoạch Hành động Quốc gia vì sự Sống còn của Trẻ em giai đoạn 2008-2015.
  • Suy dinh dưỡng thể thấp còi và thiếu máu làm ảnh hưởng đến 1/3 trẻ em dưới 5 tuổi, và quá cân/béo phì đang gia tăng ở các thành phố lớn.
  • Các thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và nuôi dưỡng trẻ nhỏ vẫn còn yếu với chỉ có 10% các bà mẹ cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
  • Mặc dù có tiến bộ, nhưng vẫn còn những khác biệt đáng kể về dân tộc và mức sống. Tỷ lệ tử vong trẻ em ở vùng núi và nông thôn hoặc các gia đình nghèo và dân tộc thiểu số cao hơn từ 2 đến 3 lần so với tỷ lệ tử vong của trẻ em vở vùng thấp hoặc các gia đình khá giả hơn.
  • Mặc dù tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm ở tất cả các nhóm thu nhập, khoảng cách giữa các gia đình giàu có nhất và nghèo nhất trong xã hội vẫn gia tăng.
  • Tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng bị hạn chế ở những vùng sâu vùng xa và miền núi.

Đáp ứng của TCYTTG

  • Trong khuôn khổ các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, sức khỏe trẻ em là một quan tâm quan trọng đối với Bộ Y tế và Chính phủ Việt Nam.
  • Kế hoạch Hành động Quốc gia về sự Sống còn của trẻ em 2009-2015, được xây dựng với hỗ trợ của TCYTTG, đã đặt ra các chỉ tiêu nhiều tham vọng để giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh xuống dưới 10/1.000 trẻ sinh sống và trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 18/1.000 trẻ sinh sống vào năm 2015.
  • Việt Nam đã cam kết với Chiến lược Toàn cầu của LHQ về Sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em, nhắm mục đích cứu sống hơn 16 triệu phụ nữ và trẻ em trong vòng 4 năm tới.
  • Các kết quả đầy ấn tượng đã đạt được kể từ khi Việt Nam chấp nhận Chương trình Tiêm chủng Mở rộng (EPI) trong những năm 1980.
  • Hơn 90% trẻ em giờ đây được tiêm chủng chống 6 bệnh phổ biến. Bệnh bại liệt đã được thanh toán năm 2000, uốn ván sơ sinh được loại trừ năm 2005, các ca bện sởi đã giảm 90% và tử vong do bạch hầu ở mức rất thấp.
  • TCYTTG hiện đang làm việc cùng Việt Nam về tăng cường kiểm sóat bệnh sởi, tiêm chủng vắc xin tổng hợp 5 trong 1, các thực hành tiêm an toàn và kiểm soát chất lượng vắc-xin.
  • TCYTTG đã giúp tăng cường và thực hiện chương trình Lồng ghép Chăm sóc Trẻ bệnh (IMCI). Kể từ khi việc thực hiện IMCI bắt đầu năm 1999, TCYTTG đã hỗ trợ việc làm cho phù hợp và cập nhật các cẩm nang và hướng dẫn kỹ thuật, và xây dựng các chương trình giảng dạy cho sinh viên y khoa.
  • Hàng ngàn nhân viên y tế tuyến huyện và tỉnh đã được đào tạo về IMCI và tất cả các trường y đều có chương trình đào tạo về IMCI. Các nỗ lực đang được chú trọng vào mở rộng đào tạo IMCI đại học thông qua phương pháp học trực tuyến qua mạng.
  • TCYTTG hỗ trợ các hoạt động tăng cường nuôi con bằng sữa mẹ như củng cố Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em, xây dựng chiến dịch truyền thông qua các kênh khác nhau sử dụng phương thức tiếp cận Truyền thông Tác động hành vi (COMBI), xây dựng năng lực của cán bộ y tế và thực hiện Luật Giám sát Kinh doanh và Tiếp thị các sản phẩm Thay thế Sữa mẹ.
  • Hướng dẫn lựa chọn và sử dụng các chỉ số trong giám sát chăm sóc sản khoa khẩn cấp